Một vài trich đoạn hay trong NK Đặng Thùy Trâm – Tài liệu text

Một vài trich đoạn hay trong NK Đặng Thùy Trâm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (135.88 KB, 11 trang )

Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂM
NHẬT KÝ ĐẶNG THUỲ TRÂM
1. Bản thân và gia đình Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thùy Trâm.
TT – Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26-11-1942, trong một gia đình trí thức. Bố là chủ
nhiệm khoa ngoại bệnh viện Xanhpôn, bác sĩ Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm –
nguyên giảng viên Trường đại học Dược khoa Hà Nội.
Gia đình Bác sĩ Đặng Ngọc Khuê có 5 người con, 4 gái 1 trai. Đặng Thuỳ Trâm là chị cả.
Tốt nghiệp Trường đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến
trường. Sau ba tháng hành quân, tháng 3-1967 chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ
trách Bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh
binh. Những ngày công tác ở đây Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm hết lòng chăm sóc người bệnh. Chị đã để
lại tình cảm sâu sắc trong lòng thương bệnh binh và người dân huyện Đức Phổ – Quảng Ngãi. Theo
lời kể của đại tá Nguyễn Đức Thắng, thuyền trưởng con tàu không số, Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân thì: “Đức Phổ lúc bấy giờ là một trong những huyện ác liệt nhất ở chiến trường Khu 5. Sư
đoàn không vận số 1 Mỹ quần nát ở đó, rồi lữ 196 Mỹ, sư dù 101 Mỹ, có thời gian cả bọn sư 25 Anh
Cả Đỏ Mỹ cũng ra đó. Rồi Rồng Xanh, Bạch Mã Nam Triều Tiên, rồi sư 2, sư 22, sư 23 ngụy, thủy
quân lục chiến, quân dù ngụy chẳng thằng nào thiếu mặt ở đấy. B52 dầm nát một vùng bán sơn địa
ngang dọc chỉ vài chục cây số… Mà trên cái vùng đất ghê gớm, suốt hàng chục năm trời vẫn tồn tại,
trụ bám một cái bệnh xá huyện nhỏ nhoi, vô danh, gan lì, bất khuất. Và người chỉ huy bệnh xá ấy là
một cô gái, một cô bác sĩ trẻ người Hà Nội. Năm ấy chị chưa đến 30. Tên chị là Trâm. Rất tiếc tôi rất
có lỗi, tôi không hỏi địa chỉ gia đình chị ở Hà Nội, phố nào, số nhà bao nhiêu. Chị chỉ huy cái bệnh
xá ấy, trụ bám đến gan lì, bền bỉ suốt mấy năm trời trên vùng đất hẹp đã bị đánh nát như băm ấy cho
đến ngày 22 tháng 6 năm 1970 trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba tơ về đồng bằng, chị bị
địch phục kích và hi sinh anh dũng lúc mới chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
Chị được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Hài cốt của chị được đồng bào địa phương an táng nơi chị ngã xuống và luôn hương khói. Sau giải
phóng, chị được gia đình và đồng đội đưa về nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình
đã đưa chị về an nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm – Hà Nội.
Bản thân hai cuốn nhật kí này cũng có một số phận kì lạ: chúng rơi vào tay những con người có
lương tri ở bên kia chiến tuyến, được họ gìn giữ và tìm mọi cách để đưa về cho gia đình chị. Sau hơn
một phần ba thế kỉ lưu lạc, đúng vào dịp kỉ niệm ba mươi năm ngày giải phóng miền Nam, thống

nhất đất nước (30. 04. 2005), Hiện cuốn nhật kí được lưu giữ tại Viện lưu trữ về Việt Nam ở
Lubbock, Texas, Mĩ.
2. Người nắm giữ cuốn nhật kí:
Frederic Whitehurst là một sĩ quan quân báo Mỹ tham chiến ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi từ
năm 1969-1971. Trong chiến tranh, nhiệm vụ của Frederic là thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị
quân sự để phân tích tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hướng tập kích hay càn quét.
Nhiệm vụ đó khiến Frederic có thể nhìn cận cảnh cuộc chiến tranh và chứng kiến tận mắt những mất
mát khủng khiếp – cả đối với phía Việt Nam lẫn phía Mỹ.
– Trang 1 –
Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂM
Frederic đã chứng kiến cảnh “cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức Phổ bị bom giội tan
hoang không còn một người sống” (thư ngày 4-6-2005). Frederic đã nhìn thấy những em nhỏ ở Chu
Lai bị thiêu cháy trong bom napalm. Frederic đã chứng kiến viên trung úy chỉ huy trực tiếp của mình
gần như mất trí vì không chịu nổi cảnh các nhân viên y tế Mỹ “đơn giản cứ nhặt bừa bất kỳ một cánh
tay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài gửi về Mỹ” (thư ngày 4-6-2005).
Những cảnh chứng kiến đó đã ám ảnh Frederic trong bao năm nay từ khi rời VN trở về.
Nhưng cũng từ những ngày khốc liệt đó, Fred đã nhìn thấy cuộc chiến tranh từ một ánh sáng hoàn
toàn khác biệt.
Trong một trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng”, sau khi tiếng súng đã im, đơn vị của
Frederic tiến vào và nhận thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất nhiều lán trại, nhiều phòng – rõ ràng
là phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến. Có vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngay
trước khi quân Mỹ ập tới và không kịp mang theo tài liệu.
Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu được trên chiến trường phải chuyển lại cho
bộ phận quân báo nghiên cứu. Hôm đó Frederic thu nhặt được rất nhiều tài liệu. Cùng với thông dịch
viên người Việt, Frederic chọn lọc các tài liệu có giá trị quân sự, số còn lại họ vứt vào đống lửa để
thiêu hủy. Frederic đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu – thông dịch
viên của đơn vị – cầm một cuốn sổ nhỏ đến cạnh anh và nói: “Frederic, đừng đốt cuốn sổ này. Bản
thân trong nó đã có lửa rồi”. Fred chưa hiểu đó là cuốn sổ gì, nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việc
Hiếu có thể kính trọng cả đối phương tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào túi.
Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ. Đó là nhật ký của một Việt cộng, chính là nữ

bác sĩ đứng đầu cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị Fred càn vào. Nét chữ nghiêng nghiêng đầy nữ tính.
Anh càng tò mò hơn khi Hiếu cho biết nữ bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Hà Nội vào Đức
Phổ công tác chưa được hai năm.
Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được cuốn nhật ký thứ hai của nữ bác sĩ, cũng do
Nguyễn Trung Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa khiến Fred vô cùng xúc động – mặc dù anh chỉ
được nghe qua lời dịch vội của Nguyễn Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối với
quân Mỹ. Những dòng đầy yêu thương, hi vọng khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Anh không hiểu nổi
bắt nguồn từ đâu mà một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của màu xanh giữa chiến trường mịt
mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi bản giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám
sát sau lưng.
Sau bao đêm Fred thức cùng Nguyễn Trung Hiếu để đọc cuốn nhật ký thứ nhất, cuốn nhật ký cùng
người viết nên nó đã trở thành điều bí mật riêng của hai người lính. Tháng mười năm ấy, Fred lại có
được một thông tin về tác giả cuốn nhật ký. Một đêm, trong khi chờ trận đánh mở màn, Fred ngồi
cạnh một người lính Mỹ.
Hai người kể lại cho nhau nghe những trận đánh mà họ đã trải qua. Người lính nọ kể cho Fred nghe
một trận đánh lạ lùng mà anh ta đã tham dự. Đó là một trận đánh không cân sức giữa 120 lính Mỹ
với một người phụ nữ. Anh ta tả lại người con gái nhỏ nhắn với chiếc túi vải bạt trên người, trong
đựng vài quyển sổ nhỏ có vẽ những sơ đồ vết thương và phác đồ điều trị. Fred sững sờ hiểu rằng anh
đang được nghe kể về những giây phút cuối cùng của tác giả cuốn nhật ký đã ám ảnh anh mấy tháng
nay, liệu đó có phải là sự thật?
Anh tâm sự: “Người lính đó kể cho tôi nghe về một trận chiến đấu lạ lùng giữa đơn vị của anh ta
gồm 120 người đàn ông với một người phụ nữ. Đơn vị của anh ta gặp nhiều lều trại trong rừng sâu
– Trang 2 –
Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂM
trên vùng núi phía tây huyện Đức Phổ. Ngay lập tức có một người nổ súng vào họ. Người lính thấy
rõ nhiều người đang chạy trong rừng để trốn thoát và muốn bắt họ, vì thế họ kêu gọi người đang bắn
hãy đầu hàng, nhưng đáp lại lời kêu gọi đầu hàng là thêm rất nhiều viên đạn bắn vào họ.
Đây là một người rất anh hùng bởi vì lính Mỹ được trang bị rất nhiều vũ khí vậy mà phải khá lâu mới
có thể chặn lại một tay súng duy nhất. Khi thấy bị bắn tiếp, lính Mỹ bèn bắn trả và tay súng kia trúng
đạn. Nhưng toán lính Mỹ không bắt được ai khác nữa. Khi đến được nơi người kia nằm, toán lính

Mỹ nhận thấy người đó đang bảo vệ các bệnh nhân trong một bệnh viện. Trên xác người phụ nữ đó
có một khẩu CKC và một cái túi vải bạt đựng vài cuốn sổ và sách vở”.
Năm 1972, Fred được rời Việt Nam và trở về Mỹ. Trong hành lý của anh có những kỷ vật nặng trĩu
của chiến tranh: hai cuốn nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh chụp những người dân Quảng Ngãi
trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy được trên xác một phóng viên Việt cộng, chiếc đục nhỏ
rơi bên xác một người thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó Việt Nam trở thành một nỗi ám ảnh trong
anh.
Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này giống như một giấc mơ và việc tìm ra gia đình bố mẹ liệt sĩ
Đặng Thuỳ Trâm khiến Fred rất xúc động. Anh tâm sự: “Một người mẹ phải được biết về những
ngày tháng của con gái mình, một đất nước phải được biết về một người anh hùng như bác sĩ Đặng.
Mọi việc dường như thật thích hợp, mẹ cô cần phải nhận được những dòng chữ của con gái mình
đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đất nước bà – 30-4-2005…”.
Trong một lá thư gửi cho bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm, ngày 2-5-2005, Fred
viết:
“Thưa bà Trâm.
Và giờ đây thắc mắc của tôi đã được giải đáp. Trận đánh mà người lính nọ tả lại cho tôi đúng là điều
đã xảy ra. Con gái bà đã một mình chiến đấu với 120 lính Mỹ để bảo vệ các bạn mình. Ở bất cứ đất
nước nào trên thế giới điều đó đều được gọi là ANH HÙNG và những người anh hùng đều được tất
cả mọi người tôn kính, dù người đó là đàn ông hay đàn bà. Thế giới phải được biết về sự dũng cảm
của con gái bà và mãi mãi học hỏi được điều gì đó từ tình yêu và những suy nghĩ của chị”.
Còn trong thư ngày 28-5-2005, gửi Đặng Kim Trâm – em gái thứ 2 của Đặng Thuỳ Trâm, Robert
Whitehurst (Anh trai của Fred) viết : “Tất cả những ai từng được chúng tôi cho xem cuốn nhật ký (đã
được Rob dịch sang tiếng Anh) đều xúc động trước những điều chị cô viết. Chúng tôi nghĩ chị không
chỉ là một anh hùng của riêng ai, nghĩa là mặc dù những ký ức của chị rất quí giá đối với cô cũng như
đối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất có ý nghĩa với tất cả mọi người. Những dòng chữ
của chị có một sức kêu gọi tuyệt vời. Những lời bày tỏ về tình yêu của chị cũng như những lời gọi
tha thiết hướng về gia đình khiến bất cứ ai từng được đọc qua đều phải xúc động. Con số các trận
đánh và sự chăm sóc của chị đối với các thương binh làm chúng ta trở nên xoàng xĩnh…”,..“Nhưng
tất cả chúng tôi đều cần học những bài học kia – những bài học về danh dự, những bài học về tinh
thần trách nhiệm và chăm sóc người khác, bài học về tận tụy với sự nghiệp và những bài học mà

chính chị là một tấm gương về tình yêu kiên định, về cái đẹp và lòng nhân ái. Tôi biết Thùy không
định viết cho cả thế giới rộng lớn này đọc, nhưng có lẽ chính vì thế mà những niềm tin sâu thẳm
trong chị được nói ra rất tự nhiên, và tôi đã thấy chị có đủ dũng cảm để theo đuổi niềm tin ấy trong
trận thử thách cuối cùng”.
– Trang 3 –
Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂM
3. Một số đoạn trích trong cuốn nhật kí
20.7.68
Những ngày bận rộn công tác dồn dập, thương nặng, người ít, mọi người trong bệnh xá đều hết sức
vất vả. Riêng mình trách nhiệm càng nặng nề hơn bao giờ hết, mỗi ngày làm việc từ sáng tinh mơ
cho đến đêm khuya. Khối lượng công việc quá lớn mà người không có nên một mình mình vừa phụ
trách bệnh xá, vừa lo điều trị, vừa giảng dạy. Vô cùng vất vả và cũng còn nhiều khó khăn trong công
việc, nhưng hơn bao giờ hết mình cảm thấy rằng mình đã đem hết tài năng sức lực của mình để cống
hiến cho cách mạng. Đôi mắt người thương binh hôm nào đau nhức tưởng như bỏ hôm nay cũng đã
sáng lại một phần. Cánh tay anh bộ đội sưng phù đe dọa chảy máu bây giờ cũng đã lành lặn. Những
cánh tay xương gãy rời cũng đã liền lại… Đó chính là nhờ sức lực của mình và những người y tá
đêm ngày lăn lộn trong công tác bên giường bệnh.
28.4.69
Dù đã dự kiến trước nhưng khi tình huống xảy ra vẫn có những cái lận đận vất vả vô cùng. Sáng nay
theo tinh thần cuộc họp ban lãnh đạo bệnh xá đêm qua, toàn bộ số thương binh nặng và đi lại khó
khăn chuyển sang trường Đảng vì thấy địch có khả năng lùng sục vào bệnh xá.
Chưa đến 6 giờ mình giục anh em chuyển thương binh đi rồi cũng tay xách nách mang theo anh em.
Khiêng lên khỏi dốc trường Đảng, mồ hôi ai nấy chảy dài trên mặt nhưng không thể chần chừ nghỉ
cho ráo mồ hôi được, mình đành động viên anh em quay lại khiêng nốt ba ca thương còn lại ở sau.
Chưa đầy một giờ ba mươi phút sau, mấy loạt súng nổ gần bên tai, mình nghĩ thầm chắc địch đã đến
trạm trực nên quay vào báo cho thương bệnh binh chuẩn bị tư thế. Chưa kịp làm gì thì anh em du
kích dân tộc hốt hoảng chạy vào báo địch đã vào đến máng nước rồi và tất cả nhân dân hối hả chạy.
Tất cả lực lượng khiêng thương binh đều chưa về đây, nhìn lại còn năm cas phải khiêng mà chỉ có
mình, Tám và mấy đứa học sinh đợt I đang chuẩn bị đi về. “Không thể bỏ thương binh được, phải cố
gắng hết sức mình khiêng thương binh, các đồng chí ạ!”. Mình nói mà lòng thấy băn khoăn khi trước

mặt mình chỉ là mấy đứa thiếu nhi gầy ốm, mảnh khảnh. Tình thế nguy nan, Tám và Quảng hớt hải
chạy đến báo tin địch đã vào đến suối nước chỗ tắm rồi.
Mấy cas thương được chuyển đi, còn lại Kiệm – một thương binh cố định gãy xương đùi. Không biết
làm sao mình gọi Lý – con bé học sinh – lại cùng khiêng. Kiệm lớn xác, nặng quá hai chị em không
thể nào nhấc lên được. Ráng hết sức cũng chỉ lôi được Kiệm ra khỏi nhà được một khúc, mình đành
bỏ đó đi gọi anh em đến chuyển giùm. May quá lại gặp Minh, Cơ – hai đứa vừa thở vừa báo tin địch
đã bắn chết đồng chí Vận – thương binh. Mấy chị em khiêng Kiệm chạy xuống hố trốn tạm một nơi.
Một giờ sau mới tập trung đông đủ được số thương binh lại, chỉ thiếu một mình Vận, còn cán bộ thì
vắng chín đồng chí.
Một cuộc di chuyển cực khổ vô cùng, chắc nó cũng như những lần mà bệnh xá bị oanh tạc hoặc tập
kích khác, nhưng có khổ hơn vì không biết nhờ cậy vào ai, mấy đứa xưa nay không khiêng thương vì
ốm yếu bây giờ cũng phải lãnh một cas thương, trèo đèo lội suối đi về địa điểm mới.
Mệt, đói run chân nhưng mình và các đồng chí vẫn vô cùng bình tĩnh. Dù sao cũng đã trưởng thành
rồi qua mấy năm ác liệt.
Bốn giờ đến địa điểm.
– Trang 4 –
Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂM
Hai năm tròn rồi đó, cũng vào tháng tư, cũng giữa mùa trăng mình về nhận công tác tại Đức Phổ giữa
lúc bệnh xá đã tan tành sau một cuộc oanh tạc. Bây giờ lại tháng tư… nắng tháng tư ở miền Nam chói
chang. Và nỗi căm thù cũng nóng bỏng như ánh nắng mùa hè đó. Chiều nay đứng trên một đỉnh núi
cao nhìn về khu vực bệnh xá cũ thấy khói bốc lên nghi ngút mà mình rưng rưng nước mắt. Vậy là
biết bao nhiêu mồ hôi công sức, bao nhiêu của cải tài sản nhân dân dành dụm nuôi thương binh từ đó
đến nay đã cháy hết thành tro bụi!
4.6.69
Vẫn là những ngày căng thẳng, địch đổ quân sát bên nhà. Chúng la hét, chặt cây ầm ĩ cả khu rừng.
Bệnh xá im lìm căng thẳng đến tột bậc
Đang công tác ở Phổ Cường, nghe báo tin mình lặng người lo lắng, chén cơm bưng trong tay không
sao ăn tiếp được nữa. Chẳng lẽ cứ thế này mãi sao. Vừa xây dựng được mấy bữa lại lo chạy, bao giờ
mới tiếp tục được nhiệm vụ… (không rõ chữ)? Lo buồn và uất ức lạ. Có cách nào chứ không lẽ bó tay
chạy dài mãi sao?

5.6.69
Địch triển khai thêm, không thể ở đó được nữa, đêm nay đa số cán bộ và thương binh dẫn nhau chạy
xuống Phổ Cường. Tối không trông rõ mặt người nhưng có lẽ ai cũng cảm thấy rất đầy đủ những nét
đau buồn trên khuôn mặt từng cán bộ và thương binh. Mình lo đi liên hệ giải quyết công tác đến
khuya mới về, thương binh đã đi ăn cơm xong, nằm ngổn ngang trên thềm nhà Đáng, một vài người
đã ngủ, số còn lại khẽ rên vì vết thương đau nhức. Còn lại trên đó ba cas cố định chưa có người
khiêng, một số cán bộ lãnh đạo còn trên đó, mình cần trở về. Trở về lúc này thật gay go, không hiểu
địch nằm ở đâu. Nhưng biết làm sao, yêu cầu công tác đòi hỏi mình phải trở về, dù chết cũng phải đi.
Đêm rất khuya rồi, không ai chợp mắt. Thuận ngồi lặng thinh bên mình, em không nói một lời nào,
mãi đến lúc chia tay em mới nói một câu ngắn: “Chị làm sao chứ em lo quá đi…” và mình thì không
nói hết một câu: “Chị gửi balô cho em, trong đó có quyển sổ…”, muốn nói tiếp rằng nếu chị không
về nữa thì em giữ quyển sổ đó và sau này gửi về gia đình. Nhưng mình không nói hết câu.
Trong ánh trăng mờ hai chị em đều đọc được trong đôi mắt người thân của mình một nỗi buồn ly
biệt. Em đi rồi và mọi người khác cũng đã đi hết, còn một mình trên chiếc thềm vắng nhà chị Tính,
không hiểu sao nước mắt bỗng tràn trên đôi má của mình. Khóc ư Thùy? Đừng chứ, hãy dũng cảm
kiên cường trong mọi tình huống, hãy giữ mãi nụ cười trên môi dù trăm nghìn vạn khó khăn nguy
hiểm đang đe dọa quanh Thùy.
25.8.69
Những ngày căng thẳng tột bậc. Đêm đêm bọn Mỹ đi quanh làng chui nằm trong lúa để sáng sớm
tinh mơ lại bò vào làng tập kích thật sớm. Sáng nay mới mờ mờ sáng chúng đã bao quanh xóm. Mình
xuống công sự với tư thế đã sẵn sàng, nằm dưới công sự nghe chúng la hét, lùng sục phía trên, cái
cảm giác ghê tởm căm thù có một sức nặng như một trọng lượng đè lên trái tim mình. Trong trận càn
sáng nay, mẹ con chị Thu Hương bị thương. Chị Thu Hương, người y tá xã mà xưa rày mình cùng ở
với chị, mới đêm hôm cùng ngồi với mình tâm sự cho đến tận khuya. Lần đầu tiên mình nghe người
mẹ của một đứa con “tập tàng” tâm sự về nỗi đau buồn trước sự lỗi lầm của họ. Thằng bé con chị bụ
bẫm và xinh xắn như một đứa trẻ Tây âu sáng nay bị hai mảnh cối xuyên vào ngực đúng vùng tim
– Trang 5 –
nhất quốc gia ( 30. 04. 2005 ), Hiện cuốn nhật kí được lưu giữ tại Viện tàng trữ về Nước Ta ởLubbock, Texas, Mĩ. 2. Người nắm giữ cuốn nhật kí : Frederic Whitehurst là một sĩ quan quân báo Mỹ tham chiến ở mặt trận Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi từnăm 1969 – 1971. Trong cuộc chiến tranh, trách nhiệm của Frederic là tích lũy những thông tin, tài liệu có giá trịquân sự để nghiên cứu và phân tích tình hình, truy lùng dấu tích quân giải phóng, xu thế tập kích hay càn quét. Nhiệm vụ đó khiến Frederic hoàn toàn có thể nhìn cận cảnh cuộc cuộc chiến tranh và tận mắt chứng kiến tận mắt những mấtmát kinh khủng – cả so với phía Nước Ta lẫn phía Mỹ. – Trang 1 – Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂMFrederic đã tận mắt chứng kiến cảnh “ cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức Phổ bị bom giội tanhoang không còn một người sống ” ( thư ngày 4-6-2005 ). Frederic đã nhìn thấy những em nhỏ ở ChuLai bị thiêu cháy trong bom napalm. Frederic đã tận mắt chứng kiến viên trung úy chỉ huy trực tiếp của mìnhgần như mất trí vì không chịu nổi cảnh những nhân viên cấp dưới y tế Mỹ “ đơn thuần cứ nhặt bừa bất kể một cánhtay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài gửi về Mỹ ” ( thư ngày 4-6-2005 ). Những cảnh tận mắt chứng kiến đó đã ám ảnh Frederic trong bao năm nay từ khi rời việt nam quay trở lại. Nhưng cũng từ những ngày quyết liệt đó, Fred đã nhìn thấy cuộc cuộc chiến tranh từ một ánh sáng hoàntoàn độc lạ. Trong một trận tập kích vào một “ địa thế căn cứ của Việt cộng ”, sau khi tiếng súng đã im, đơn vị chức năng củaFrederic tiến vào và nhận thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất nhiều lán trại, nhiều phòng – rõ rànglà phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến. Có vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngaytrước khi quân Mỹ ập tới và không kịp mang theo tài liệu. Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu được trên mặt trận phải chuyển lại chobộ phận quân báo điều tra và nghiên cứu. Hôm đó Frederic thu nhặt được rất nhiều tài liệu. Cùng với thông dịchviên người Việt, Frederic tinh lọc những tài liệu có giá trị quân sự chiến lược, số còn lại họ vứt vào đống lửa đểthiêu hủy. Frederic đang đốt những tài liệu vô hiệu thì thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu – thông dịchviên của đơn vị chức năng – cầm một cuốn sổ nhỏ đến cạnh anh và nói : “ Frederic, đừng đốt cuốn sổ này. Bảnthân trong nó đã có lửa rồi ”. Fred chưa hiểu đó là cuốn sổ gì, nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việcHiếu hoàn toàn có thể kính trọng cả đối phương ảnh hưởng tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào túi. Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ. Đó là nhật ký của một Việt cộng, chính là nữbác sĩ đứng đầu cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị chức năng Fred càn vào. Nét chữ nghiêng nghiêng đầy dịu dàng êm ả. Anh càng tò mò hơn khi Hiếu cho biết nữ bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Thành Phố Hà Nội vào ĐứcPhổ công tác làm việc chưa được hai năm. Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được cuốn nhật ký thứ hai của nữ bác sĩ, cũng doNguyễn Trung Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa khiến Fred vô cùng xúc động – mặc dầu anh chỉđược nghe qua lời dịch vội của Nguyễn Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối vớiquân Mỹ. Những dòng đầy yêu thương, hy vọng khiến anh vô cùng quá bất ngờ. Anh không hiểu nổibắt nguồn từ đâu mà một người con gái hoàn toàn có thể nhìn thấy cái đẹp của màu xanh giữa mặt trận mịtmù bom đạn, vì sao cô ấy hoàn toàn có thể nghe nổi bản giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bámsát sau sống lưng. Sau bao đêm Fred thức cùng Nguyễn Trung Hiếu để đọc cuốn nhật ký thứ nhất, cuốn nhật ký cùngngười viết nên nó đã trở thành điều bí hiểm riêng của hai người lính. Tháng mười năm ấy, Fred lại cóđược một thông tin về tác giả cuốn nhật ký. Một đêm, trong khi chờ trận đánh mở màn, Fred ngồicạnh một người lính Mỹ. Hai người kể lại cho nhau nghe những trận đánh mà họ đã trải qua. Người lính nọ kể cho Fred nghemột trận đánh lạ lùng mà anh ta đã tham gia. Đó là một trận đánh không cân sức giữa 120 lính Mỹvới một người phụ nữ. Anh ta tả lại người con gái nhỏ xíu với chiếc túi vải bạt trên người, trongđựng vài quyển sổ nhỏ có vẽ những sơ đồ vết thương và phác đồ điều trị. Fred sững sờ hiểu rằng anhđang được nghe kể về những khoảng thời gian ngắn sau cuối của tác giả cuốn nhật ký đã ám ảnh anh mấy thángnay, liệu đó có phải là thực sự ? Anh tâm sự : “ Người lính đó kể cho tôi nghe về một trận chiến đấu lạ lùng giữa đơn vị chức năng của anh tagồm 120 người đàn ông với một người phụ nữ. Đơn vị của anh ta gặp nhiều lều trại trong rừng sâu – Trang 2 – Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂMtrên vùng núi phía tây huyện Đức Phổ. Ngay lập tức có một người nổ súng vào họ. Người lính thấyrõ nhiều người đang chạy trong rừng để trốn thoát và muốn bắt họ, vì vậy họ lôi kéo người đang bắnhãy đầu hàng, nhưng đáp lại lời lôi kéo đầu hàng là thêm rất nhiều viên đạn bắn vào họ. Đây là một người rất anh hùng do tại lính Mỹ được trang bị rất nhiều vũ khí vậy mà phải khá lâu mớicó thể chặn lại một tay súng duy nhất. Khi thấy bị bắn tiếp, lính Mỹ bèn bắn trả và tay súng kia trúngđạn. Nhưng toán lính Mỹ không bắt được ai khác nữa. Khi đến được nơi người kia nằm, toán línhMỹ nhận thấy người đó đang bảo vệ những bệnh nhân trong một bệnh viện. Trên xác người phụ nữ đócó một khẩu CKC và một cái túi vải bạt đựng vài cuốn sổ và sách vở ”. Năm 1972, Fred được rời Nước Ta và quay trở lại Mỹ. Trong tư trang của anh có những kỷ vật nặng trĩucủa cuộc chiến tranh : hai cuốn nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh chụp những người dân Quảng Ngãitrong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy được trên xác một phóng viên báo chí Việt cộng, chiếc đục nhỏrơi bên xác một người thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó Nước Ta trở thành một nỗi ám ảnh tronganh. Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này giống như một giấc mơ và việc tìm ra mái ấm gia đình cha mẹ liệt sĩĐặng Thuỳ Trâm khiến Fred rất xúc động. Anh tâm sự : “ Một người mẹ phải được biết về nhữngngày tháng của con gái mình, một quốc gia phải được biết về một người anh hùng như bác sĩ Đặng. Mọi việc có vẻ như thật thích hợp, mẹ cô cần phải nhận được những dòng chữ của con gái mìnhđúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng quốc gia bà – 30-4-2005 … ”. Trong một lá thư gửi cho bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm, ngày 2-5-2005, Fredviết : “ Thưa bà Trâm. Và giờ đây vướng mắc của tôi đã được giải đáp. Trận đánh mà người lính nọ tả lại cho tôi đúng là điềuđã xảy ra. Con gái bà đã một mình chiến đấu với 120 lính Mỹ để bảo vệ những bạn mình. Ở bất kỳ đấtnước nào trên quốc tế điều đó đều được gọi là ANH HÙNG và những người anh hùng đều được tấtcả mọi người tôn kính, dù người đó là đàn ông hay đàn bà. Thế giới phải được biết về sự dũng cảmcủa con gái bà và mãi mãi học hỏi được điều gì đó từ tình yêu và những tâm lý của chị ”. Còn trong thư ngày 28-5-2005, gửi Đặng Kim Trâm – em gái thứ 2 của Đặng Thuỳ Trâm, RobertWhitehurst ( Anh trai của Fred ) viết : “ Tất cả những ai từng được chúng tôi cho xem cuốn nhật ký ( đãđược Rob dịch sang tiếng Anh ) đều xúc động trước những điều chị cô viết. Chúng tôi nghĩ chị khôngchỉ là một anh hùng của riêng ai, nghĩa là mặc dầu những ký ức của chị rất quí giá so với cô cũng nhưđối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất có ý nghĩa với toàn bộ mọi người. Những dòng chữcủa chị có một sức lôi kéo tuyệt vời. Những lời bày tỏ về tình yêu của chị cũng như những lời gọitha thiết hướng về mái ấm gia đình khiến bất kể ai từng được đọc qua đều phải xúc động. Con số những trậnđánh và sự chăm nom của chị so với những thương bệnh binh làm tất cả chúng ta trở nên xoàng xĩnh … ”, .. “ Nhưngtất cả chúng tôi đều cần học những bài học kinh nghiệm kia – những bài học kinh nghiệm về danh dự, những bài học kinh nghiệm về tinhthần nghĩa vụ và trách nhiệm và chăm nom người khác, bài học kinh nghiệm về tận tụy với sự nghiệp và những bài học kinh nghiệm màchính chị là một tấm gương về tình yêu kiên cường, về cái đẹp và lòng nhân ái. Tôi biết Thùy khôngđịnh viết cho cả quốc tế to lớn này đọc, nhưng có lẽ rằng chính vì vậy mà những niềm tin sâu thẳmtrong chị được nói ra rất tự nhiên, và tôi đã thấy chị có đủ gan góc để theo đuổi niềm tin ấy trongtrận thử thách ở đầu cuối ”. – Trang 3 – Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂM3. Một số đoạn trích trong cuốn nhật kí20. 7.68 Những ngày bận rộn công tác làm việc dồn dập, thương nặng, người ít, mọi người trong bệnh xá đều hết sứcvất vả. Riêng mình nghĩa vụ và trách nhiệm càng nặng nề hơn khi nào hết, mỗi ngày thao tác từ sáng tinh mơcho đến đêm khuya. Khối lượng việc làm quá lớn mà người không có nên một mình mình vừa phụtrách bệnh xá, vừa lo điều trị, vừa giảng dạy. Vô cùng khó khăn vất vả và cũng còn nhiều khó khăn vất vả trong côngviệc, nhưng hơn khi nào hết mình cảm thấy rằng mình đã đem hết năng lực công sức của con người của mình để cốnghiến cho cách mạng. Đôi mắt người thương bệnh binh hôm nào đau nhức tưởng như bỏ thời điểm ngày hôm nay cũng đãsáng lại một phần. Cánh tay anh bộ đội sưng phù rình rập đe dọa chảy máu giờ đây cũng đã lành lặn. Nhữngcánh tay xương gãy rời cũng đã liền lại … Đó chính là nhờ công sức của con người của mình và những người y táđêm ngày lăn lộn trong công tác làm việc bên giường bệnh. 28.4.69 Dù đã dự kiến trước nhưng khi trường hợp xảy ra vẫn có những cái lận đận khó khăn vất vả vô cùng. Sáng naytheo ý thức cuộc họp ban chỉ huy bệnh xá đêm qua, hàng loạt số thương bệnh binh nặng và đi lại khókhăn chuyển sang trường Đảng vì thấy địch có năng lực lùng sục vào bệnh xá. Chưa đến 6 giờ mình giục đồng đội chuyển thương bệnh binh đi rồi cũng tay xách nách mang theo bạn bè. Khiêng lên khỏi dốc trường Đảng, mồ hôi ai nấy chảy dài trên mặt nhưng không hề chần chừ nghỉcho ráo mồ hôi được, mình đành động viên bạn bè quay lại khiêng nốt ba ca thương còn lại ở sau. Chưa đầy một giờ ba mươi phút sau, mấy loạt súng nổ gần bên tai, mình nghĩ thầm chắc địch đã đếntrạm trực nên quay vào báo cho thương thương bệnh binh sẵn sàng chuẩn bị tư thế. Chưa kịp làm gì thì đồng đội dukích dân tộc bản địa tá hỏa chạy vào báo địch đã vào đến máng nước rồi và tổng thể nhân dân quay quồng chạy. Tất cả lực lượng khiêng thương bệnh binh đều chưa về đây, nhìn lại còn năm cas phải khiêng mà chỉ cómình, Tám và mấy đứa học viên đợt I đang chuẩn bị sẵn sàng đi về. “ Không thể bỏ thương bệnh binh được, phải cốgắng rất là mình khiêng thương bệnh binh, những chiến sỹ ạ ! ”. Mình nói mà lòng thấy do dự khi trướcmặt mình chỉ là mấy đứa mần nin thiếu nhi gầy ốm, mảnh khảnh. Tình thế nguy hại, Tám và Quảng hớt hảichạy đến báo tin địch đã vào đến suối nước chỗ tắm rồi. Mấy cas thương được chuyển đi, còn lại Kiệm – một thương bệnh binh cố định và thắt chặt gãy xương đùi. Không biếtlàm sao mình gọi Lý – con bé học viên – lại cùng khiêng. Kiệm lớn xác, nặng quá hai chị em khôngthể nào nhấc lên được. Ráng rất là cũng chỉ lôi được Kiệm ra khỏi nhà được một khúc, mình đànhbỏ đó đi gọi bạn bè đến chuyển giùm. May quá lại gặp Minh, Cơ – hai đứa vừa thở vừa báo tin địchđã bắn chết chiến sỹ Vận – thương bệnh binh. Mấy chị em khiêng Kiệm chạy xuống hố trốn tạm một nơi. Một giờ sau mới tập trung chuyên sâu đông đủ được số thương bệnh binh lại, chỉ thiếu một mình Vận, còn cán bộ thìvắng chín chiến sỹ. Một cuộc vận động và di chuyển cực khổ vô cùng, chắc nó cũng như những lần mà bệnh xá bị oanh tạc hoặc tậpkích khác, nhưng có khổ hơn vì không biết nhờ cậy vào ai, mấy đứa lâu nay không khiêng thương vìốm yếu giờ đây cũng phải lãnh một cas thương, trèo đèo lội suối đi về khu vực mới. Mệt, đói run chân nhưng mình và những chiến sỹ vẫn vô cùng bình tĩnh. Dù sao cũng đã trưởng thànhrồi qua mấy năm ác liệt. Bốn giờ đến khu vực. – Trang 4 – Nhật ký ĐẶNG THÙY TRÂMHai năm tròn rồi đó, cũng vào tháng tư, cũng giữa mùa trăng mình về nhận công tác làm việc tại Đức Phổ giữalúc bệnh xá đã tan tành sau một cuộc oanh tạc. Bây giờ lại tháng tư … nắng tháng tư ở miền Nam chóichang. Và nỗi căm thù cũng nóng bỏng như ánh nắng mùa hè đó. Chiều nay đứng trên một đỉnh núicao nhìn về khu vực bệnh xá cũ thấy khói bốc lên nghi ngút mà mình rưng rưng nước mắt. Vậy làbiết bao nhiêu mồ hôi công sức của con người, bao nhiêu của cải gia tài nhân dân tích góp nuôi thương bệnh binh từ đóđến nay đã cháy hết thành tro bụi ! 4.6.69 Vẫn là những ngày căng thẳng mệt mỏi, địch đổ quân sát bên nhà. Chúng hô hoán, chặt cây ầm ĩ cả khu rừng. Bệnh xá im lìm căng thẳng mệt mỏi đến tột bậcĐang công tác làm việc ở Phổ Cường, nghe báo tin mình lặng người lo ngại, chén cơm bưng trong tay khôngsao ăn tiếp được nữa. Chẳng lẽ cứ thế này mãi sao. Vừa thiết kế xây dựng được mấy bữa lại lo chạy, bao giờmới liên tục được trách nhiệm … ( không rõ chữ ) ? Lo buồn và uất ức lạ. Có cách nào chứ không lẽ bó taychạy dài mãi sao ? 5.6.69 Địch tiến hành thêm, không hề ở đó được nữa, đêm nay hầu hết cán bộ và thương bệnh binh dẫn nhau chạyxuống Phổ Cường. Tối không trông rõ mặt người nhưng có lẽ rằng ai cũng cảm thấy rất không thiếu những nétđau buồn trên khuôn mặt từng cán bộ và thương bệnh binh. Mình lo đi liên hệ xử lý công tác làm việc đếnkhuya mới về, thương bệnh binh đã đi ăn cơm xong, nằm bộn bề trên thềm nhà Đáng, một vài ngườiđã ngủ, số còn lại khẽ rên vì vết thương đau nhức. Còn lại trên đó ba cas cố định và thắt chặt chưa có ngườikhiêng, 1 số ít cán bộ chỉ huy còn trên đó, mình cần quay trở lại. Trở về lúc này thật gay go, không hiểuđịch nằm ở đâu. Nhưng biết làm thế nào, nhu yếu công tác làm việc yên cầu mình phải trở lại, dù chết cũng phải đi. Đêm rất khuya rồi, không ai chợp mắt. Thuận ngồi lặng thinh bên mình, em không nói một lời nào, mãi đến lúc chia tay em mới nói một câu ngắn : “ Chị làm thế nào chứ em lo quá đi … ” và mình thì khôngnói hết một câu : “ Chị gửi balô cho em, trong đó có quyển sổ … ”, muốn nói tiếp rằng nếu chị khôngvề nữa thì em giữ quyển sổ đó và sau này gửi về mái ấm gia đình. Nhưng mình không nói hết câu. Trong ánh trăng mờ hai chị em đều đọc được trong đôi mắt người thân trong gia đình của mình một nỗi buồn lybiệt. Em đi rồi và mọi người khác cũng đã đi hết, còn một mình trên chiếc thềm vắng nhà chị Tính, không hiểu sao nước mắt bỗng tràn trên đôi má của mình. Khóc ư Thùy ? Đừng chứ, hãy dũng cảmkiên cường trong mọi trường hợp, hãy giữ mãi nụ cười trên môi dù trăm nghìn vạn khó khăn vất vả nguyhiểm đang rình rập đe dọa quanh Thùy. 25.8.69 Những ngày stress tột bậc. Đêm đêm bọn Mỹ đi quanh làng chui nằm trong lúa để sáng sớmtinh mơ lại bò vào làng tập kích thật sớm. Sáng nay mới mờ mờ sáng chúng đã bao quanh xóm. Mìnhxuống công sự với tư thế đã sẵn sàng chuẩn bị, nằm dưới công sự nghe chúng hô hoán, lùng sục phía trên, cáicảm giác ghê tởm căm thù có một sức nặng như một khối lượng đè lên trái tim mình. Trong trận cànsáng nay, mẹ con chị Thu Hương bị thương. Chị Thu Hương, người y tá xã mà xưa rày mình cùng ởvới chị, mới đêm hôm cùng ngồi với mình tâm sự cho đến tận khuya. Lần tiên phong mình nghe ngườimẹ của một đứa con ” tập tàng ” tâm sự về nỗi đau buồn trước sự lỗi lầm của họ. Thằng bé con chị bụbẫm và xinh xắn như một đứa trẻ Tây âu sáng nay bị hai mảnh cối xuyên vào ngực đúng vùng tim – Trang 5 –

Source: https://dpbb.vn
Category: Câu nói hay

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*